Di tích lịch sử

Đền thờ Đức Thánh Triệu Việt Vương (Tên gọi khác Triệu Quang Phục) Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh

Đền thờ Đức Thánh Triệu Việt Vương (Tên gọi khác Triệu Quang Phục) Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh                

Theo sắc phong còn lưu giữ tại đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ thì di tích có thờ nhân vật chính là Triệu Quang Phục.

Ông Triệu Quang Phục là con ông Triệu Túc và mẹ là bà Đàm Thị, người huyện Chu Diên (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông sinh ngày 6 tháng Giêng năm Giáp Dần (523).

Ông là người uy tráng dũng liệt, theo Lý Nam Đế và cha là Triệu Túc khởi nghĩa chống lại nhà Lương: “Giáp Tý, Thiên-Đức năm thứ 1 (544) (Lương, Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, vào tháng Giêng, vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt đế, lên ngôi, đổi niên hiệu, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ là nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tính Thiều, Phạm Tu đều là tướng văn và tướng võ”([1]) Triệu Quang Phục có công, được trao chức Tả tướng quân.

Năm 546, sau khi Lý Nam Đế phải lui về động Khuất Lạo, đã ủy thác cho đại tướng Triệu Quang Phục giữ việc nước([2]), điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương.

Năm 547, tháng Giêng, Triệu Quang Phục lui về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Đầm này rộng, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được([3]), bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể vào được. Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Ông thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm. Ông dùng chiến thuật du kích, ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp hết lương thực vũ khí, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên không đánh được. Người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương.

Năm 550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh gọi Trần Bá Tiên về (sau này Trần Bá Tiên cướp ngôi vua của nhà Lương năm 557), ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Triệu Quang Phục nhân thế tung quân ra đánh Dương. Sàn chống cự không nổi, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc, ông vào thành Long Biên ở.

Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, ở đất của người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng. Trước đó, khi Lý Nam Đế tránh ở động Khuất Lạo, Thiên Bảo cùng với tướng - người trong họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo thua, thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao, thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu. Bấy giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương.

Năm 555, Đào Lang Vương mất ở Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng.

Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với quân của Triệu Quang Phục ở huyện Thái Bình, năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại, mà quân của Lý Phật Tử luôn thua, ngờ là ông có thuật lạ, bèn xin giảng hòa. Ông nghĩ rằng Lý Phật Tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát, Hạ Cát ở huyện Từ Liêm, Hà Nội) cho ở phía Tây của nước, Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, xã ấy nay có đền thờ thần Bát Lang, tức là đền thờ Nhã Lang). Lý Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của Triệu Quang Phục là Cảo Nương. Triệu Quang Phục bằng lòng, kết thành thông gia. Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể. Triệu Quang Phục quá tin vào sức mạnh quân sự của mình, mất cảnh giác nên đã bị suy yếu đáng kể. Nhã Lang ở rể, thực chất là để hoạt động gián điệp nên nội tình của Triệu Quang Phục đã bị Lý Phật Tử nắm rõ.

Năm 571, Lý Phật Tử phụ lời thề, đem quân đánh. Triệu Quang Phục yếu thế không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía Nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật Tử đuổi theo sát gót. Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, than rằng: "Ta hết đường rồi!", bèn nhảy xuống biển tự vẫn. Ông làm vua 23 năm.([4]) Như vậy cuộc đời và sự nghiệp của ông ở thế kỷ VI gắn liền với cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc (nhà Lương) với chiến thuật đánh giặc tài tình gắn liền với căn cứ đầm Dạ Trạch đã đi vào sử sách và tâm trí của con dân đất Việt.

Người đời sau lập đền thờ ông ở cửa biển Đại Nha (Đại Nha có tên khác là Đại Ác, thời nhà Lý đổi là Đại An), nay là cửa Liêu (cửa sông Đáy). Nhân dân đã lập miếu thờ ông tại nơi ông mất, đó là thôn Độc Bộ, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ngày nay.

Đức Triệu Quang Phục được thánh hóa, Năm Trùng Hưng thứ 1 (1285) vua Trần Nhân Tông phong là Minh đạo Hoàng đế. Năm Trùng Hưng thứ 4 vua lại ban thêm hai chữ Khai Cơ. Năm Hưng Long thứ 21 (1313) đời Trần Anh Tông vua lại ban thêm bốn chữ “Thánh liệt thần vũ”. Với những ý nghĩa tốt đẹp đó, nhiều nơi ở vùng hạ lưu sông Đáy, ven biển hai tỉnh Ninh BìnhNam Định đã lập đền thờ ông.

Trên đất Ninh Bình cũng thuộc vùng cửa biển Đại Nha xưa có rất nhiều đền thờ Triệu Quang Phục như Đình Chất Thành, miếu Thượng,Thượng Kiệm, miếu Ứng Luật, xã Quang Thiện, đình làng Lưu Phương, xã Lưu Phương, huyện Kim Sơn. Huyện Yên Khánh có đền Duyên Phúc. Trên đất huyện Yên Mô có đình Phù Sa, đền Hương Thị. Huyện Hoa Lư có đền làng La Phù và đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ thờ Triệu Quang Phục. Với nhân dân làng Bạch Cừ, ông như một vị thành hoàng, che chở và phù giúp nhân dân trong cuộc sống. Các triều vua sau có ban sắc phong, cho phép nhân dân thờ cúng ông. Hiện nay, tại đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ còn lưu giữ 12 bản sắc phong của các triều đại Hậu Lê và Nguyễn, trong đó có 10 sắc phong cho ông và 01 đạo sắc thời Nguyễn (năm Tự Đức thứ 33 – 1880) phong chung cùng Thần linh bản địa. Như vậy, đền thờ ông đã có từ khá lâu, được các triều đại ghi nhận, cấp sắc phong. Bản sắc phong sớm nhất vào năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771).

Sự kiện liên quan đến di tích.

1. Di tích trong thời kỳ kháng chiến:

- Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954):

+ Di tích là trụ sở của làng Bạch Cừ họp bàn cách chống càn và đánh địch.

+ Di tích là trụ sở cho dân quân du kích hoạt động, làm đài quan sát tiền tiêu, theo dõi hoạt động của địch ngoài Quốc lộ 1A, để báo động cho nhân dân sơ tán và có kế hoạch chống càn diệt địch.

+ Ngày 16/01/1954 sư đoàn 320 tập trung tại di tích, phối hợp cùng du kích xuất quân tiến đánh bốt Hoàng Đan, Cầu Cổ (Nam Định) và núi Non Nước (Ninh Bình).

- Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975):

+ Di tích là trạm đón tiếp thương binh và cũng là nơi tập trung, đưa tiễn con em trong làng lên đường làm nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước, bảo vệ tổ quốc.

+ Năm 1965-1966, di tích là nơi tổ chức lực lượng dân quân ứng cứu hàng hóa ở ga xe lửa Ninh Bình.

+ Di tích là nơi xuất quân đi tiếp đạn, tải thương cho các ụ pháo cây đa ông Công - Cam Giá.

2. Di tích trong thời kỳ hoà bình: Trong thời kỳ đất nước hòa bình, kinh tế ổn định, phát triển, di tích có vị trí quan trọng hơn trong đời sống tinh thần của nhân dân.

SINH HOẠT VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH

Những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hội tiêu biểu diễn ra trong năm (tính theo âm lịch) hiện nay ở đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ như sau:

- Ngày sinh đức Triệu Quang Phục: Ngày 6 tháng Giêng. Thời gian diễn ra trong 1 ngày.

- Ngày lễ báo ân: Ngày 15 tháng 7.

- Ngày kỵ đức Triệu Quang Phục: Ngày 14 tháng 8.

- Lễ trừ tịch (đêm 30 tết): Lễ này được diễn ra vào lúc giao thừa nên còn gọi là lễ giao thừa.

Ngoài các ngày lễ chính trong năm như đã đề cập ở trên, tại di tích hàng ngày vẫn bố trí các cụ cao tuổi trong làng hương khói, trông coi, bảo vệ. Vào các dịp lễ tết, các ngày rằm, ngày mùng một hàng tháng, nhân dân trong vùng đến dâng hương và cầu may.

GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH

Trên cơ sở khảo sát thực tế và qua nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến di tích, chúng tôi nhận thấy đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ có những giá trị sau:

- Di tích là nơi tưởng niệm đức Triệu Quang Phục, một nhân vật lịch sử có công lớn với đất nước. Đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ thờ ông với vai trò là “thành hoàng làng”, che chở và phù giúp nhân dân trong cuộc sống.

- Tìm hiểu về di tích, chúng ta có dịp tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của làng xã, truyền thống cách mạng của vùng đất có di tích.

- Tại di tích còn lưu giữ được một số đồ thờ tự quý như bát hương, long ngai, bài vị, tư liệu Hán Nôm, từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn……. Điều này thể hiện ý thức cao trong việc giữ gìn những di sản văn hóa của người dân địa phương.  

- Đền thờ Triệu Quang Phục và đình làng Bạch Cừ ngoài giá trị xã hội là nơi sinh hoạt văn hóa, trung tâm hành chính chung của cả làng, di tích còn có một giá trị tinh thần rất lớn, thể hiện tình cảm, sự thành kính, biết ơn sâu sắc của dân làng đối với đức Triệu Quang Phục. Đây cũng là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ ngàn đời, đạo lý uống nước nhớ nguồn.



[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xb KHXH, Hà Nội, 1972, tr118

[2] Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xb KHXH, Hà Nội, 1972, tr119

[3] Theo truyền thuyết được chép lại trong “Đại Việt sử ký toàn thư “ thì đây là nền nhà của Tiên Dung- Chử Đồng Tử (Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xb KHXH, Hà Nội, 1972, tr120)

[4] Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xb KHXH, Hà Nội, 1972, tr123

Tin liên quan
BẢN ĐỒ TP NINH BÌNH

Tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 19
  • Hôm nay: 119
  • Trong tuần: 349
  • Tất cả: 6 841
Đăng nhập